Lê Văn Duyệt là một trong những nhân vật lịch sử gây nhiều tranh luận nhưng cũng để lại dấu ấn sâu đậm nhất trong tiến trình hình thành và ổn định vùng đất Nam Kỳ. Từ một thái giám theo phò Nguyễn Ánh, ông trở thành vị tướng tài ba và hai lần giữ chức Tổng trấn Gia Định Thành, mang lại trật tự và thịnh vượng cho phương Nam. Dẫu khi mất đi, mộ phần bị đào phá và kết tội như muốn vùi lấp một bậc đại thần, nhưng công lao và nhân cách của ông vẫn bền bỉ tồn tại trong ký ức dân Gia Định qua bao thế hệ.
Thân thế
Ông nội của Lê Văn Duyệt là Lê Văn Hiếu, người gốc làng Bồ Đề, huyện Chương Nghĩa, Quảng Ngãi, vào lập nghiệp tại vùng Trà Lọt thuộc tỉnh Định Tường. Tại đây, Lê Văn Duyệt chào đời vào khoảng năm 1763 – 1764.
Năm 1780, khi Nguyễn Ánh chạy loạn Tây Sơn đến trú tại nhà Lê Văn Toại – thân phụ của Lê Văn Duyệt. Cảm nghĩa cứu giúp, Nguyễn Ánh thu nhận Lê Văn Duyệt, do có khiếm khuyết bẩm sinh nên chúa cho ông làm thái giám và giao nhiệm vụ bảo vệ cung quyến. Từ đó, ông theo sát chúa Nguyễn và trở thành một trong những tướng lĩnh chủ lực trong cuộc chiến chống Tây Sơn.
Sau khi nhà Nguyễn thành lập, Lê Văn Duyệt phục vụ dưới hai triều Gia Long và Minh Mạng, nhiều lần được giao trọng trách, đặc biệt là hai lần giữ chức Tổng trấn Gia Định Thành. Công cuộc cai trị của ông góp phần ổn định và phát triển Nam Kỳ sau chiến tranh, biến vùng đất này thành nơi yên bình và thịnh vượng. Tuy vậy, ông cũng bị chê trách về việc lạm quyền và dùng cực hình quá mức.
Về cuối đời, Lê Văn Duyệt có nhiều bất đồng với Minh Mạng, khiến quan hệ giữa ông và triều đình không còn êm đẹp. Sau khi ông mất, ông bị kết tội và mộ phần bị san phẳng. Cho đến đời Tự Đức, vụ án mới được xét lại, ông mới được phục hồi danh dự và trả lại tước vị sau hơn ba thập kỷ oan khuất.
Công thần của Gia Long
Sau khi được Nguyễn Ánh thu dụng làm Thái giám, Lê Văn Duyệt nhanh chóng trở thành một cộng sự thân tín của vị chúa này. Vì có tài năng quân sự nổi bật, năm Quý Sửu 1793, ông được phong làm Thuộc nội vệ úy. Năm Đinh Tỵ 1797, ông chiêu mộ được 500 dân ngoại tịch, xin lập thành một vệ mới. Nguyễn Ánh đặt tên là vệ Diệu Võ quân Thần Sách và giao cho ông chỉ huy.
Từ đây, Lê Văn Duyệt liên tiếp lập công trong các trận Đạm Thủy, Quy Nhơn, Thị Nại, Phú Xuân, góp phần quyết định đưa Nguyễn Ánh đến thắng lợi cuối cùng. Khi Gia Long lên ngôi năm Nhâm Tuất 1802, ông giao cho Lê Văn Duyệt chức Khâm sai Chưởng Tả quân bình Tây tướng quân, dẫn quân ra Bắc Hà để truy quét tàn dư quân Tây Sơn.
Năm Nhâm Thân 1812, Lê Văn Duyệt được cử làm Tổng trấn Gia Định Thành thay cho Nguyễn Văn Nhân (Nhơn). Ở Gia Định Thành, ông chăm lo đời sống dân chúng đồng thời thi hành các biện pháp trị an nghiêm khắc, làm cho đời sống người dân yên ổn, sung túc hơn. Đại Nam Thực Lục chép:
Trước kia dân Gia Định nhiều người du đãng, hoặc có kẻ khác thân ở cửa quyền, ghi tên vào sổ quân, mà thường thường lẻn về hương thôn, họp nhau trộm cướp. Duyệt đến, đặt rõ điều cấm, khiến dân sở tại bí mật đem tên bọn trộm cướp báo quan, lập tức bắt trị. Lại khiến bọn cướp ngày một ít đi, dân cư yên ổn.

Đây là trung tâm hành chính và quân sự của Gia Định Thành trong giai đoạn Lê Văn Duyệt làm Tổng trấn.
Nguồn hình: Địa chí Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh 1987
Lê Văn Duyệt còn góp công lớn trong việc giữ yên bờ cõi phía Nam. Sử kể, vào cùng năm Nhâm Thân, vua Ang Chan II (Nặc Chăn) của Cao Miên bị lật đổ khi em trai là Ang Snguon (Nặc Nguyên) được người Xiêm hậu thuẫn. Vì Cao Miên đã thần phục Việt Nam, Gia Long liền cử Nguyễn Văn Thoại (Thoại Ngọc Hầu) đưa Nặc Chăn về Gia Định lánh nạn. Sau đó, vua lệnh cho Tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt và Hiệp Tổng trấn Ngô Nhân Tĩnh thống lĩnh hơn 13.000 thủy binh hộ tống Nặc Chăn về nước.
Quân Xiêm nghe danh Lê Văn Duyệt thì không dám giao chiến nhưng vẫn không chịu rút quân. Lê Văn Duyệt tâu lên vua trình bày kế sách giữ Cao Miên và bảo vệ Gia Định, trong đó đề nghị đắp thành Nam Vang cho Nặc Chăn trú ngụ, đắp thành Lô Yêm để chứa lương thực, và để lại một lực lượng bảo hộ. Vua cho là rất phải, bèn chuẩn cho làm theo. Trịnh Hoài Đức chép trong Gia Định Thành Thông Chí:
Ngày 18 tháng 7, quân ta đắp xong thành Nam Vang rồi rước Quốc vương đến ở, tướng nước Xiêm bàn giao kho tàng thành lũy xong rồi triệt binh về nước. Các em của Quốc vương là Nguyên, Yêm và Đuông thì đã ngầm trốn sang Xiêm La từ trước. Tháng 8, giao Chưởng cơ Thoại Ngọc hầu cùng 1.500 quân ở lại để bảo hộ nước Cao Miên. Ngày 16, Duyệt Quận công và Tĩnh Viễn hầu dẫn toàn quân khải hoàn. Vậy là nhờ vào oai phúc của triều đình mà Xiêm La phải kính phục, từ đó tình giao hảo láng giềng càng tốt đẹp, nước Cao Miên cũng do đó mà được yên ổn.
Ông cũng không chỉ có ơn với dân chúng phía Nam, mà vào năm Kỷ Mão 1819, khi được cử đi kinh lược trấn Thanh (Thanh Hóa) và trấn Nghệ (Nghệ An) vì hai trấn lúc đó mất mùa liên tiếp, trộm cướp hoành hành, Lê Văn Duyệt đã cảm thông nỗi khổ của dân, liền dâng sớ xin triều đình miễn thuế ruộng. Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu có chép:
Tháng 2, Lê Văn Duyệt ra đến Nghệ An, bọn trộm cướp nghe tiếng bỏ chạy. Duyệt dâng sớ tâu: “Nghệ An điêu hóa quá, xin tha thuế và bãi việc quan, lại phải lựa quan trấn để an tập dân”. Ngài y cho.
Tháng 3, Lê Văn Duyệt đến Thanh Hóa dâng sớ nói việc tật khổ ngoài dân; Ngài khiến tha thuế thiếu trấn Thanh và Ninh Bình.
Bất đồng với Minh Mạng
Nhiều người cho rằng những bất đồng giữa vua Minh Mạng và Lê Văn Duyệt khởi đầu từ việc Lê Văn Duyệt không tán thành việc Gia Long truyền ngôi cho Minh Mạng, và tiếp đó trở nên gay gắt hơn khi Lê Văn Duyệt tiền trảm hậu tấu đối với cha vợ Minh Mạng là Hoàng (Huỳnh) Công Lý. Nhưng có thật như vậy không?
Theo Đại Nam Thực Lục, vào năm Giáp Tuất 1814, khi Thừa Thiên Cao Hoàng hậu băng, triều đình bàn luận việc ai sẽ làm chủ tự:
Đến nay làm lễ tang hoàng hậu, bầy tôi có người bàn lấy hoàng tôn Đán (con hoàng tử Cảnh, tức là Mỹ Đường) làm chủ tự. Vua dụ rằng: “Hoàng tư từng làm con của hoàng hậu, đã có giấy tờ, nên sai làm chủ tự, việc lớn của nhà nước không nên câu nệ theo lễ đích tôn thừa trọng như nhà thường”. Nguyễn Văn Thành cho thế thì văn tế khó gọi. Vua bảo rằng: “Con theo mệnh cha tế mẹ là việc danh chính ngôn thuận, có gì mà không nên”. Bấy giờ việc bàn mới định. Nguyễn Văn Thành tỏ ý không bằng lòng.
Sau đó, khi Gia Long đã cao tuổi, có ý muốn truyền ngôi cho Hoàng tư, Nguyễn Văn Thành lại tỏ ý không bằng lòng:
Vua tuổi đã cao mà chưa định người nối ngôi. Hoàng tử thứ tư hiền và lớn hơn cả, vua đã để ý. Bầy tôi đều có lòng theo. Riêng một Nguyễn Văn Thành là người ngạo mạn kiêu căng, muốn được vua nhỏ tuổi, không thích vua lớn tuổi. Một hôm mời các quan trong triều uống rượu ở nhà, nói lên rằng: “Hoàng tôn Đán nối ngôi, tôi sắp tâu xin lập đấy”. Trong đám ngồi không ai dám nói gì. Trịnh Hoài Đức sợ vạ lây mình, bèn nói rằng: “Việc lớn của nhà nước, quyết định do ở lòng vua, nếu người bầy tôi định kế riêng, tham lấy công to thì tội lại lớn”. Văn Thành bèn thôi. Sau có người nói đến tai vua. Vua giận nói rằng: “Hắn muốn dựng vua nhỏ để dễ khống chế, ngày sau có thể chẹt họng vỗ lưng chăng. Ta há tối tăm nhầm lẫn, không biết đắn đo nên chăng, vội nghe lời hắn mà không vì Xã Tắc chọn người sao!”
Như vậy, có thể thấy người phản đối Minh Mạng kế vị là Nguyễn Văn Thành, chứ có liên quan gì tới Lê Văn Duyệt đâu.
Còn về chuyện Hoàng Công Lý, Đại Nam Thực Lục cũng chép rõ:
Phó tổng trấn Gia Định là Hoàng Công Lý tham lam trái phép, bị quân nhân tố cáo hơn mười việc. Lê Văn Duyệt đem việc tâu lên. Vua bảo Nguyễn Văn Nhân và Nguyễn Đức Xuyên rằng : “Không ngờ Công Lý quá đến thế, công trạng nó có gì bằng các khanh, duy nhờ Tiên đế cất nhắc, ngôi đến Phó tổng trấn, lộc nước ơn vua, thực không phải bạc, thế mà lại bóc lột tiểu dân, làm con mọt nước. Nay tuy dùng phép buộc tội, nhưng dân đã khốn khổ rồi”. Sai đình thần hội bàn. Đều nói : “Công Lý bị người kiện, nếu triệu về Kinh để xét, tất phải đòi nhân chứng đến, không bằng để ở thành mà tra xét là tiện hơn”. Vua cho là phải, bèn hạ Công Lý xuống ngục, sai Thiêm sự Hình bộ Nguyễn Đình Thịnh đến hội với tào thần ở thành mà xét hỏi.
Hoàng Công Lý sau bị đem ra nghị tội, đình thần bàn xét thấy đáng chết nên đem giết đi, gia sản bị tịch thu và trả lại cho binh dân. Vậy là chuyện Lê Văn Duyệt tiền trảm hậu tấu, rồi đem đầu Hoàng Công Lý vào kinh là chuyện người đời thêu dệt chứ không có thật. Bản thân vua Minh Mạng cũng hề không có ý bao che cho cha vợ.
Vậy những bất đồng giữa hai bên xuất phát từ đâu?
Năm Nhâm Ngọ 1822, đại sứ nước Anh là John Crawfurd trên hành trình đi sứ Xiêm và Cochin China (Việt Nam) đã có cuộc gặp với quan Tổng trấn thành Gia Định. John Crawfurd sau đó nhờ Lê Văn Duyệt trình thư lên vua Minh Mạng, nhưng vì đây không phải quốc thư của Anh mà chỉ là thư của Toàn quyền Ấn Độ nên Lê Văn Duyệt chỉ có thể gởi cho quan Tượng binh (Mandarin of Elephants), người kiêm nhiệm Ngoại giao ở Huế (có thể là Nguyễn Đức Xuyên).
Tuy không được yết kiến vua Minh Mạng, nhưng trước khi Crawfurd rời Huế, vị quan Tượng binh đã gặp ông và dặn dò rằng lần sau Toàn quyền có viết thư thì phải niêm phong vì đó là lệ của Đại Nam, sau đó lại hỏi rằng việc đưa thư của Toàn quyền cho quan Tổng trấn xem là ý của Crawfurd hay là bị ép buộc. Vị quan này nói tiếp:
Theo lễ nghi của nước này, không ai được xem thư gửi cho Hoàng thượng trước khi nó đến tay Người. Một bản sao, hoặc bản chép lại, là quá đủ cho quan Tổng trấn rồi.
Qua việc này, John Crawfurd cho rằng đang có một sự dè chừng và ghen ghét của triều đình dành cho Lê Văn Duyệt.
Tiếp đó, năm Quý Mùi 1823, sứ giả Miến Điện là Gibson đến Đại Nam để thiết lập ngoại giao nhằm cô lập Xiêm La, sứ đoàn được Lê Văn Duyệt tiếp đón tại Gia Định. Quốc thư của Miến Điện sau đó gửi ra kinh, nhưng đáng chú ý là kèm theo đó còn có một lá thư khác. Đó là lá thư của Thống đốc đảo Prince of Wales (Anh) gửi riêng cho Lê Văn Duyệt, thư này vẫn còn niêm phong chứng tỏ ông chưa hề đọc qua. Crawfurd cho rằng Lê Văn Duyệt cố ý không mở thư vì không muốn triều đình nghi ngờ ông có ý giao thiệp riêng tư với người Anh.

Trang 417, sách Journal of an Embassy from the Governor‑General of India to the Courts of Siam and Cochin China Vol. II (1830) của John Crawfurd.
Sau đó, khi hội bàn việc liên minh với Miến Điện, Lê Văn Duyệt cùng hai viên quan người Pháp là Vanier và Cheneaux ủng hộ liên minh, nhưng triều đình thì không đồng tình.
Theo Crawfurd, việc triều đình không muốn liên minh xuất phát từ sự tự cao quá đáng, Minh Mạng nghĩ rằng ông có thể đánh Xiêm trong chớp mắt nếu ông muốn. Crawfurd nói thêm:
Không có một người sáng suốt nào ở triều đình, ngoại trừ quan Tổng trấn, người thường hay cười trước những điều ngớ ngẩn của các viên quan còn lại, và đã thậm chí gợi ý với nhà vua rằng tham vọng của ông là hoang đường, vì thật ra nhà vua cũng chỉ là chư hầu của Hoàng đế Trung Hoa mà thôi.
Từ năm Đinh Hợi 1827, bất đồng càng tăng khi Lê Văn Duyệt đề nghị thâu nhận Chao Anouvong và chuẩn bị đối đầu Xiêm La trong vụ Vạn Tượng, nhưng Minh Mạng bác bỏ. Cùng năm, việc Tổng trấn lập đội thuộc binh riêng cho phu nhân Đỗ Thị Phẫn bị Bộ Binh tâu là trái luật. Tuy Minh Mạng nể tình mà bỏ qua, nhưng những sự việc liên tiếp này khiến triều đình ngày càng lo ngại quyền lực quá lớn và sự vận hành mang tính tự chủ của Gia Định Thành.
Thấy gì qua việc xử tội một nấm mồ?
Năm Nhâm Thìn 1832, khi Lê Văn Duyệt vừa qua đời, vua Minh Mạng lập tức bãi bỏ chức Tổng trấn Gia Định Thành và đổi năm trấn cũ thành sáu tỉnh trực thuộc triều đình là Gia Định, Biên Hòa, Vĩnh Long, Định Tường, An Giang và Hà Tiên. Đồng thời, ông sai Bạch Xuân Nguyên phụng mật chỉ vào Gia Định để truy xét công tội của vị Tổng trấn vừa mất và trị tội những thuộc hạ thân tín của ông.
Con nuôi của Lê Văn Duyệt là Lê Văn Khôi lúc này đang bị giam. Phần vì bất mãn, phần vì lo sợ, Khôi vượt ngục và bí mật liên lạc với binh lính bên ngoài, phát động khởi nghĩa chống lại triều đình vào năm Quý Tỵ 1833. Cho đến năm Ất Mùi 1835, cuộc nổi dậy mới bị dập tắt. Ngay sau đó, Lê Văn Duyệt lại bị lôi ra nghị tội dù rằng đã mất ba năm, ông bị quy kết bảy tội đáng chém đầu, hai tội đáng thắt cổ và một tội đáng phát quân. Minh Mạng ra lệnh cuốc bỏ núm mộ, san bằng mặt đất và dựng bia ghi mấy chữ “Quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xử” (nghĩa là chỗ hoạn quan Lê Văn Duyệt chịu tội). Tước hiệu trên mộ cha mẹ ông cũng bị đục bỏ.
Nhìn lại toàn bộ sự việc, có thể thấy rằng việc Minh Mạng bãi bỏ chức Tổng trấn Gia Định Thành và đổi thành sáu tỉnh là bước đi nhằm tập trung lại quyền lực vào triều đình Huế, xóa bỏ mô hình cai trị mang tính tự chủ mà Gia Định duy trì suốt nhiều thập kỷ. Còn việc xử tội Lê Văn Duyệt sau khi ông mất lại nhằm triệt tiêu đi uy tín của một đại thần từng nắm quyền lực quá lớn ở phương Nam, đồng thời cũng là lời cảnh cáo đối với những thế lực còn trung thành với ông. Tuy nhiên, chính hành động này đã gây bất bình sâu rộng trong dân chúng và trở thành một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫn tới loạn Lê Văn Khôi.
Vả lại, trong cảm nhận của cư dân miền Nam lúc bấy giờ, mọi bản án triều đình dành cho Lê Văn Duyệt hầu như đều vô nghĩa. Với họ, công lao và uy tín của vị Tổng trấn đã được khẳng định bằng chính cuộc sống yên ổn mà ông đem lại suốt gần hai thập niên cai quản vùng đất mới. Bởi vậy, dù triều đình có cuốc mộ, phá bia hay công bố bao nhiêu tội trạng, cũng khó thể làm phai mờ hình ảnh ông Tổng trấn trong tâm trí người dân Gia Định Thành.
Chỉ đến năm Mậu Thìn 1868, vua Tự Đức mới cho truy phục chức Chưởng Tả quân Đại tướng quân cho Lê Văn Duyệt, xóa bỏ án cũ và khôi phục phần mộ của ông sau 36 năm oan khuất, tuy muộn màng nhưng phần nào trả lại danh dự cho một nhân vật có nhiều đóng góp lớn lao cho đất nước, đặc biệt là vùng đất phương Nam.

Nguồn hình: Ngọc Dương – Báo Thanh Niên
Và rồi, người xưa lại trở về lẫm liệt, nấm mồ oan nghiệt kia cũng lại bừng lên rực rỡ giữa lòng Gia Định, và trong lòng dân tộc.