Người bên lề lịch sử

Dòng chảy của thời cuộc lắm lúc đẩy người ta vào những khúc quanh nghiệt ngã, để rồi buộc họ phải mang cái tội muôn đời. Phan Thanh Giản cũng vậy. Giữa cơn binh lửa rối ren của đất nước, ông buộc phải chọn cho mình một con đường, dù là đơn độc, cố giữ lấy dân khi biết mình không đủ sức để giữ lấy nước. Và rồi cuối cùng, ông lại lặng lẽ nép mình bên lề của lịch sử.

Thân thế

Ông nội của Phan Thanh Giản là Phan Thanh Tập vốn là người Hoa, vì không chịu phục tùng triều Mãn Thanh nên đã cùng gia đình trốn sang xứ Bình Định. Năm Tân Mão 1771, phong trào Tây Sơn nổ ra, Phan Thanh Tập đưa gia đình tiếp tục di cư về phương Nam lánh nạn. Gia tộc Phan Thanh trôi dạt về trấn Vĩnh Thanh (nay là xứ Bến Tre – Vĩnh Long) rồi sinh ra Phan Thanh Giản vào năm Bính Thìn 1796.

Phan Thanh Giản mồ côi mẹ từ nhỏ, được ông bà ngoại cho học chữ với một thiền sư ở chùa làng. Năm Ất Hợi 1815, cha ông đang giữ chức quan bát phẩm thì bị vu cho tội ăn hối lộ. Thanh Giản biết cha mình là người thanh liêm, bị hàm oan nên đã lên tỉnh xin yết kiến quan Hiệp trấn nhưng nhưng quan không giúp được. Không cứu được cha, ông ở lại tỉnh để tiện thăm nom và xin làm các việc phục dịch thay cha trong ngục, ban ngày làm việc, tối lại chong đèn tự học. Quan Hiệp trấn thấy Thanh Giản là người hiếu thảo lại thông minh, ham học nên đã gởi ông cho quan Đốc học Võ Trường Nhơn dạy dỗ.

Khoa Ất Dậu 1825, Phan Thanh Giản đậu Cử nhân, sang năm sau, khoa Bính Tuất 1826, ông lại đậu Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ, trở thành vị Tiến sĩ đầu tiên của đất Nam Kỳ lúc 30 tuổi. Từ đó, ông bước chân vào chốn quan trường. Trải qua ba triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Phan Thanh Giản từng đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng, nhiều lần thăng giáng, khen thưởng có mà trách phạt cũng có. Đến cuối đời, khi toàn bộ Nam Kỳ mất vào tay Pháp, ông dâng sớ tạ tội về kinh rồi tuyệt thực mà chết.

Bối cảnh lịch sử

Dưới thời vua Minh Mạng, nước Đại Nam bắt đầu thi hành những chính sách cấm đạo khắc nghiệt, dùng vũ lực trấn áp và thậm chí xử tử những người truyền bá đạo Gia Tô (tức Công giáo), vốn bị coi là tà giáo. Năm Ất Mùi 1835, một giáo sĩ của hội Thừa sai Paris tên Joseph Manchard bị bắt rồi xử tử bằng hình thức lăng trì vì tham gia cuộc nổi dậy Lê Văn Khôi. Tiếp đó, vào năm Mậu Tuất 1838, một giáo sĩ khác của hội Thừa sai Paris là Pierre Borie bị xử trảm tại Đồng Hới.

Năm Đinh Tỵ 1857, theo lệnh của Hoàng đế Napoléon III, một công sứ Pháp tại Thượng Hải tên Charles de Montigny được cử sang Việt Nam để yêu cầu triều đình nhà Nguyễn chấm dứt việc đàn áp, trục xuất các giáo sĩ Công giáo và mở cửa thông thương. Tuy nhiên, vua Tự Đức đã từ chối mọi đề nghị.

Lấy cớ này, năm Mậu Ngọ 1858, một hạm đội gồm hơn 3.000 binh sĩ, trong đó có 300 lính Tây Ban Nha từ Philippines, do đô đốc Rigault de Genouilly chỉ huy, tiến đánh cảng Tourane (Đà Nẵng). Quân Pháp chiếm được bán đảo Sơn Trà, nhưng sau nhiều tháng giao tranh mà không thể mở rộng phạm vi chiếm đóng, De Genouilly chuyển hướng tấn công vào Sài Gòn rồi chiếm lấy Gia Định.

Quân viễn chinh Pháp – Tây Ban Nha tấn công thành Gia Định.
Trích từ tờ báo L’Illustration.

Tháng Mười Một năm Kỷ Mùi 1859, Rigault de Genouilly bị thay thế bởi Louis Adolphe Bonard. Năm Nhâm Tuất 1862, thiếu tá Simon theo lệnh của đô đốc Bonard, vào cửa biển Thuận An đưa thư bàn về việc giảng hòa với nhà Nguyễn. Khi đó, Phan Thanh Giản và Lâm Duy Thiếp xin đi để hội đàm với Pháp. Trước khi đi, vua Tự Đức ban ngự tửu và căn dặn:

Đất đai quyết không thể nào cho được, tà giáo quyết không cho tự do tuyên truyền.

Tuy nhiên, trong tình thế lúc đó, hai ông phải ký vào Hòa ước Nhâm Tuất, nhượng cho Pháp ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, mở cửa thông thương và bồi thường chiến phí. Vì việc này mà Thanh Giản và Duy Thiếp bị vua quở trách nặng nề:

Hai viên này không những là người có tội của bản triều mà là người có tội của nghìn muôn đời vậy!

Đoàn sứ thần Phan Thanh Giản cùng đoàn sứ thần Bonard ký vào hiệp ước Nhâm Tuất trên Chiến hạm Duperré.
Trích từ tờ báo L’Illustration.

Để chuộc lại đất đã mất, vua Tự Đức cử sứ bộ do Phan Thanh Giản làm Chánh sứ, Phạm Phú Thứ làm Phó sứ và Ngụy Khắc Đản làm Bồi sứ sang Pháp đàm phán. Sau các cuộc thương thuyết tại Paris, năm Quý Hợi 1863, Hoàng đế Napoléon III cử Lãnh sự Gabriel Aubaret đến Huế để bàn về hiệp ước mới thay thế Hòa ước Nhâm Tuất. Cùng năm này, La Grandière thay Louis Adolphe Bonard giữ cương vị Thống soái Nam Kỳ.

Giữa năm Giáp Tý 1864, hai bên thống nhất 18 trong 19 điều khoản, chỉ còn vướng ở điều khoản về chiến phí. Hiệp ước sơ bộ được ký kết, nhưng chỉ năm ngày sau, Aubaret nhận lệnh từ Paris hủy bỏ việc ký kết. Đại Nam chính thức từ bỏ giấc mơ chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ từ tay Pháp.

Sau khi mất ba tỉnh miền Đông, Phan Thanh Giản về làm Kinh lược sứ Tây Nam Kỳ, vẫn cố sức giao hảo thân thiện với Pháp để giữ yên bình cho dân chúng. Tuy nhiên, năm Đinh Mão 1867, thiếu tướng La Grandière lấy cớ các tỉnh miền Tây còn liên hệ với lực lượng chống Pháp ở miền Đông nên đem nhiều binh thuyền đến đưa thư mời Kinh lược sứ Phan Thanh Giản thương thuyết, nói rằng triều đình nên giao tiếp ba tỉnh miền Tây để giữ tình hòa hiếu, nếu không sẽ bị tấn công. Phan Thanh Giản lập tức sang thuyền biện thuyết nhưng không được, bèn xin chớ nhiễu hại dân và để triều đình tiếp tục quản kho tiền gạo. Ông vừa trở về, quân Pháp đã bao vây thành Vĩnh Long, rồi lần lượt chiếm An Giang và Hà Tiên.

Hay tin, triều đình Huế sai viện Cơ mật và nha Thương bạc viết thư bàn việc, yêu cầu hộ tống quan lại ba tỉnh về kinh. Tự thấy mình không giữ được đất, Phan Thanh Giản dâng trả mũ áo, ấn triện, dâng sớ xin tội và kê khai tiền gạo ba tỉnh để khấu vào khoản bồi thường chiến phí cho Pháp. Ông để lại di chúc dặn con cháu không được nhận quan chức của giặc rồi tuyệt thực và qua đời vào tháng Bảy cùng năm, một cái chết lặng lẽ và bất lực.

Mộ phần đơn sơ của Phan Thanh Giản ở làng Bảo Thạnh – Ba Tri, chụp năm 1957.
Nguồn hình: Internet

Về chuyện Phan Thanh Giản bán nước

Nhắc lại thời điểm hòa ước Nhâm Tuất được ký, Pháp đã chiếm được bốn tỉnh Nam Kỳ là Biên Hòa, Gia Định, Định Tường và Vĩnh Long, cùng năm đó, ở xứ Bắc Kỳ nổi lên nạn giặc biển do Tạ Văn Phụng và Nguyễn Văn Thịnh cầm đầu, mang danh phò Lê để chống lại triều đình. Nhà Nguyễn lúc này lâm vào thế lưỡng đầu thọ địch, khiến binh lực hao mòn, ngân khố kiệt quệ.

Trong hoàn cảnh đó, việc ký hòa ước chắc chắn không phải là quyết định dễ dàng đối với Phan Thanh Giản, nhưng có lẽ đó là giải pháp khả dĩ nhất để ba tỉnh miền Đông lắng việc binh đao, đồng thời chuộc lại được tỉnh Vĩnh Long và tạm thời giữ được ba tỉnh miền Tây.

Về phía triều đình, vua Tự Đức cũng do dự và mang nhiều mâu thuẫn trong việc đối phó với người Pháp. Sách Đại Nam Thực Lục có ghi chép, sau khi Pháp hạ được Đại đồn Chí Hòa vào năm Tân Dậu 1861, triều đình cử Nguyễn Bá Nghi làm Khâm sai đại thần đi vào kinh lý Gia Định. Bá Nghi dâng tấu lên vua, có đoạn:

Hiện nay Tây dương đã chiếm cứ Gia Định, Định Tường, hòa hay không hòa, chỉ một việc ấy ta đã thua thiệt rồi. Nếu hòa mà họ không trả lại hai tỉnh ấy thì ta chỉ thua thiệt có bấy nhiêu thôi, mà Biên Hòa, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên, còn là của ta, đường bộ đường biển có thể giao thông được, để cứu cấp trước mắt, mà tính cách về sau.

Vua sau khi nghe tấu, nói rằng:

Sự thế khó làm, trẫm đã biết hết rồi. Ngươi có lòng chịu trách nhiệm, nên hết sức mà làm, để tỏ khí tiết như cây khỏe gặp cơn bão táp là được.

Có thể thấy, ngay chính vua Tự Đức cũng biết rõ sức của Đại Nam bấy giờ không thể chống lại Pháp, nhưng tư tưởng Nho giáo, danh dự của hoàng gia và áp lực từ phe chủ chiến trong triều đã đưa ông lâm vào thế khó xử. Vì vậy, ở một góc nhìn khác, việc Phan Thanh Giản xin đi sứ rồi tự ý ký hòa ước có thể xem là một cách ông gánh thay trách nhiệm cho nhà vua và triều đình đang trong cơn bế tắc cùng cực.

Đến khi Pháp lấy cớ muốn chiếm tiếp ba tỉnh miền Tây, biết đã thế cùng lực kiệt, không thể làm gì hơn, ông cũng đành giao thành để tránh cho dân chúng và quan binh phải thương vong vô ích, rồi lấy cái chết để tạ tội với triều đình và đất nước.

Khi biết tin Phan Thanh Giản qua đời, Nguyễn Đình Chiểu có viết hai bài thơ điếu để tỏ lòng tôn kính và cảm thông với ông, trong đó có bài Điếu Phan công Thanh Giản (1):

歷仕三朝獨潔身 (Lịch sĩ tam triều độc khiết thân)
微公谁保一方民 (Vi công thùy bảo nhất phương dân)
龍湖寧負書生老 (Long Hồ ninh phụ thư sinh lão)
鳳閣空歸學士神 (Phụng Các không quy học sĩ thần)
秉節曾勞生富弼 (Bỉnh tiết tằng lao sinh Phú Bật)
盡忠何恨死張巡 (Tận trung hà hận tử Trương Tuần)
有天六省存亡事 (Hữu thiên lục tỉnh tồn vong sự)
安得從容就義臣 (An đắc thung dung tựu nghĩa thần)

Dịch nghĩa:

  1. Làm quan trải ba triều vua (2), riêng ông giữ được tấm thân trong sạch.
  2. Nếu không có ông, ai sẽ che chở cho dân chúng một phương?
  3. Người học trò già đành gánh lấy việc giữ đất Long Hồ (3).
  4. Hồn bậc học sĩ khó mà trở về nơi Phụng Các (4).
  5. Cầm cờ tiết đi sứ, từng chịu nhiều gian khổ, sống như Phú Bật (5).
  6. Trọn lòng trung nghĩa, còn gì mà hận, chết như Trương Tuần (6).
  7. Việc còn mất của sáu tỉnh, trời đã thấu biết.
  8. Chỉ mong có bề tôi biết thung dung mà chết vì nghĩa lớn.

Nhân đây, người viết cũng liều mạng dịch lại bài thơ theo thể song thất lục bát như sau:

Trải ba triều giữ thân trong sạch
Cứu dân lành khỏi ách can qua
Long Hồ đè nặng vai già
Hồn về Phụng Các khó mà làm sao
Đi sứ sánh gian lao Phú Bật
Chết theo thành xứng bậc Trương Tuần
Sáu miền còn mất trời phân
Tìm đâu được đức hiền thần như ông

Bài Điếu Phan công Thanh Giản trong tập Việt Nam Bách Gia Thi của Cao Tự Thanh, in năm 2005

Vậy là ngay cả một nhà thơ chống Pháp mạnh mẽ như Nguyễn Đình Chiểu cũng nhận thấy việc Phan Thanh Giản nhường đất chỉ là cách ông bảo vệ người dân Nam Kỳ. Trước khi chết, Phan Thanh Giản vẫn xin Pháp đừng làm hại đến người dân và cố giữ lại được kho tiền gạo cho triều đình. Vậy nếu nói Phan Thanh Giản bán nước, thì đổi lại, ông được gì?

Người ta vẫn quen nhìn lịch sử qua lăng kính của chủ nghĩa dân tộc và những bài học chống ngoại xâm, rồi biến chúng thành thước đo đạo đức để phán xét con người và lịch sử. Cũng vì vậy mà Phan Thanh Giản bị gán cho cái tội bán nước, chỉ bởi ông đã chọn con đường ít đau thương nhất trong bối cảnh tuyệt vọng của dân tộc.

Nếu đứng ở vị thế của ông, giữa danh dự bản thân và sinh mạng của hàng vạn người dân Nam Kỳ, liệu chúng ta có thể làm được gì khác? Có lẽ, thay vì phán xét, điều cần hơn là sự thấu hiểu, bởi lòng yêu nước không phải lúc nào cũng cần máu đổ, đôi khi chỉ là sự lặng lẽ chịu đựng giữa thời cuộc đầy nghiệt ngã.


(1) Bài thơ này được dân gian truyền miệng nên có khá nhiều dị bản, một số người lợi dụng sự sai lạc âm Hán Việt đã cố ý diễn dịch thành ra Nguyễn Đình Chiểu phê phán Phan Thanh Giản. Tuy nhiên, có hai bản thơ khả tín đều cho thấy điều ngược lại, một là của Phan Văn Hùm in trong Nỗi Lòng Đồ Chiểu, hai là của Cao Tự Thanh in trong Việt Nam Bách Gia Thi, hai bản thơ này chỉ khác nhau hai chữ còn ý nghĩa thì không thay đổi nhiều.
Sở dĩ nói hai bản thơ này khả tín là vì bản của Phan Văn Hùm được chép theo Nguyễn Đình Chiêm (con thứ của Nguyễn Đình Chiểu), sau đó sách được vợ ông Hùm là bà Mai Huỳnh Hoa (cháu cố của Nguyễn Đình Chiểu) cho chỉnh sửa và tái bản; còn bản của Cao Tự Thanh thì được lấy từ một tài liệu Hán Nôm chép tay của gia đình Nguyễn Đình ở Bến Tre do bà Âu Dương Thị Yến cất giữ.

(2) Phan Thanh Giản từng làm quan qua cả ba triều vua: Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức.

(3) Long Hồ là tên một dinh thuộc châu Định Viễn dưới thời chúa Nguyễn, đến triều Minh Mạng thì xứ này được đổi tên thành tỉnh Vĩnh Long. Cuộc đời Phan Thanh Giản gắn liền với Long Hồ, sinh ra tại đất này mà chết cũng vì không giữ nổi đất này.

(4) Phụng Các là tên gọi của Trung thư tỉnh từ thời Quang Trạch của Võ Tắc Thiên, là một trong Tam tỉnh theo tổ chức phong kiến Trung Hoa, chuyên soạn thảo và ban hành các chiếu lệnh, chính sách của hoàng đế.
Sau khi giao thành Vĩnh Long và qua đời, Phan Thanh Giản bị triều đình lột hết chức tước, tên cũng bị đục bỏ khỏi bia Tiến sĩ nên linh hồn ông không còn danh phận gì mà về nơi Phụng Các nữa. Ở đây Nguyễn Đình Chiểu dùng tên Phụng Các để đối với Long Hồ ở câu 3 theo Đường luật.

(5) Phú Bật là một danh thần nhà Bắc Tống, từng phải nhiều lần đi sứ khi Khiết Đan quấy nhiễu biên cương. Nguyễn Đình Chiểu ví việc đi sứ của Phan Thanh Giản cũng gian lao như Phú Bật vậy.

(6) Trương Tuần là một danh tướng nhà Đường, trong trận chống loạn An Sử, ông chết theo thành khi Tuy Dương thất thủ. Việc tuyệt thực mà chết của Phan Thanh Giản cũng được Nguyễn Đình Chiểu cho là sánh ngang với cái chết của Trương Tuần.

Bài viết đã được đăng tại: